Chó Dingo

Thứ Năm, 03/03/2016, 01:21 GMT+7

Chó Dingo

Tổ tiên ban đầu của nó được cho là đã đến với một trong những làn sóng định cư của con người hàng ngàn năm trước đây, khi con chó vẫn còn tương đối ít được thuần hóa và gần gũi hơn với loài chó cha mẹ của chúng là sói xám châu Á loài hoang dã, Canis lupus. Kể từ đó, chúng sống chủ yếu bên ngoài khu vực sinh sống của con người và những con chó khác, cùng với nhu cầu của sinh thái học Úc, đã làm cho chúng phát triển các tính năng và bản năng phân biệt chúng với tất cả các loài chó khác.

Dingo đã duy trì đặc điểm cổ đại mà đoàn kết chúng, cùng với thân nhân gần nhất của chúng từ khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương, vào một đơn vị phân loại được đặt tên theo chúng, Canis lupus dingo, tách chúng ra từ những loài chó được phân loại Canis lupus familiaris. Môi trường sống tự nhiên của chó dingo có thể dao động từ sa mạc, đồng cỏ và ven rừng. Chúng không thể sống quá xa ra khỏi nước và họ thường định cư ở trong các hang thỏ hoang, và các khúc gỗ.

Dingo đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của Úc, chúng là những kẻ săn mồi đỉnh và động vật ăn thịt trên cạn lớn nhất của lục địa. Do chúng tấn công gia súc, dingo và chó thuần hoang dã được coi là loài gây hại của ngành nuôi cừu và các phương pháp kiểm soát kết quả bình thường gây kết quả ngược lại các nỗ lực bảo tồn chó dingo. Ngành chăn nuôi gia súc có thể được hưởng lợi từ việc chó dingo ăn thị thỏ, chuột túi, và chuột.

Ngày nay, người ta ước tính rằng phần lớn của "dingo" hiện đại cũng là hậu duệ của những con chó cảnh nhà đã được du nhập gần đây hơn. Số những cái gọi là lai chó dingo đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ qua, và chó dingo nên hiện nay được phân loại như là dễ bị tổn thương.

Các tiêu chuẩn của chó Dingo Đông Dương, loài chó sói hoang dại

Giới thiệu qua về chó Dingo Đông Dương

Hiện nay đàn chó bản địa với số lượng ít, ở mức độ đáng kể đã bị tại tạp khác giống. Chủ yếu, các con chó thuộc giống này được tìm thấy ở hạ lưu sông Mã (tỉnh Thanh Hoá).

Những đặc điểm hình dáng bên ngoài và thể trạng của chó Dingo Đông Dương.

Chó Dingo Đông Dương dạng sói còn sót lại ở Việt Nam có tầm vóc trung bình và hình thể mặt cắt ngang hơi dài (tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài). Chúng có cấu trúc cơ thể nhẹ nhàng, rắn chắc và kết cấu đầu, mình, các chi cân đối một cách tự nhiên, không có xu hướng phát triển thô kệch hoặc thể tạng béo phệ. ở trạng thái nghỉ ngơi chúng có khả năng hoàn toàn thư giãn. Nhưng thông thường chúng rất hiếu động và liên tục thay đổi tư thế, đến mức phần cổ, mông và tứ chi không lúc nào giữ nguyên một tư thế, làm cho việc đánh giá bằng mắt gặp nhiều khó khăn. ở bất kỳ trạng thái nào chúng cũng thể hiện khả năng giữ thăng bằng rất tốt và di chuyển một cách hợp lý. Thoạt nhìn, những đại diện điển hình của giống chó này hoàn toàn giống với loài sói về hình dáng bên ngoài, cũng như cách thức đi và chạy.

Nhìn chung, cũng như loài sói, giống chó này thuộc loại chân cao, đầu to so với kích thước mình, các chi hơi dài và đầu có vẻ to hơn so với thực tế.

Sự khác biệt giới tính thể hiện rõ. To lớn và mạnh mẽ hơn con cái, con đực có đầu to hơn- đặc điểm điển hình về giới.

Tiêu chuẩn chó Dingo Đông dương với Kích thước và những chỉ số cơ bản

  • Chiều cao ở vai (cao trước): từ 50cm (con cái) đến 60 cm (con đực).
  • Trọng lượng: từ 16 kg (những con chó cái bé và nhẹ) đến 26 kg.
  • Chiều cao ở mấu xương cùng (cao sau) tương đương với chiều cao ở vai.
  • Tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài: 103- 108 (chó cái có hình thể dài hơn, chó đực cân đối hơn).
  • Tỷ lệ giữa chu vi vòng cổ chân trước và chiều cao vai (tỷ lệ xương): 15,5- 18,5 (chu vi vòng cổ chân từ 8,5 đến 11 cm, tuỳ theo giới tính và thể tạng).
  • Chỉ số cao chân: 52 – 55.
  • Chỉ số dài đầu: gần 40.
  • Tiêu chuẩn chó Dingo Đông Dương về Thể lực và vận động

Chó Dingo Đông Dương dạng sói ở Việt Nam được xếp vào hạng quốc khuyển Việt Nam có cách thức vận động rất hiệu quả, uyển chuyển và không phí sức, không có biểu hiện thân mình lắc lư, xiêu đổ hay mất thăng bằng. Khi chạy bước dài, các chi tách khỏi mặt đất với độ cao nhỏ nhất, các bàn chân được đặt trên một đường thẳng. Khi chó phi, chạy, tốc độ cao, bước phi dài, không có cảm tưởng vội vã, hối hả. Cú nhảy vượt vật cản của chúng tỏ ra mềm mại, có tính toán và được thực hiện với lượng sức lực bỏ ra ít nhất.

Các con chó Dingo Đông Dương thuộc giống này sử dụng bàn chân rất tốt khi tiếp xúc với những đồ vật khác nhau, động tác của chúng chính xác, khéo léo. Khi vượt chướng ngại vật chúng thể hiện khả năng giữ thăng bằng rất tốt, không sợ độ cao, phối hợp động tác rất hoàn hảo.

Nhìn chung, chó Dingo Đông Dương dạng sói là mẫu hình của sự kết hợp hài hoà sức mạnh, khéo léo, uyển chuyển, nhanh nhẹn và dẻo dai. Chúng có khả năng chịu đựng thời tiết nóng bức, nhu cầu thức ăn và nước uống không nhiều.

  • Tiêu chuẩn chó Dingo Đông dương Tập tính và các giác quan
  • Chó dingo đông dương còn sót lại ở Việt Nam có sự phân loại rất khác nhau ở hệ thần kinh trung ương. Một số con khi tiếp xúc tỏ ra ghi ngại, tính hiền, số khác thì nhiệt tình và cũng có những con bình tĩnh. Tuy nhiên tất cả các con chó thuộc giống này không bị mất tập trung, có trí nhớ tốt, tốc độ phản ứng nhanh.
  • Việc dạy và huấn luyện những con chó này cần bắt đầu từ độ tuổi rất sớm.

Chó Dingo Đông Dương ở Việt Nam có đặc điểm là các cơ quan thị giác, thính giác và khứu giác phát triển rất tốt. Chúng có thể được sử dụng rất tốt cho công tác tìm kiếm, đặc biệt là truy vết. Những công việc này là sở trường lớn nhất của chúng.

Tiêu chuẩn chó Dingo Đông Dương về hình thể và thể chất

  • Đầu to, khoảng cách giữa hai bên gò má lớn (khoảng cách này bằng 1/2 chiều độ dài đầu), phần hộp sọ nổi rõ, không có trường hợp nào tỏ ra thô kệch và nhẹ.
  • Trán bằng phẳng hoặc hơi nhô, đường rãnh giữa trán chạy dài.
  • Cơ hàm và thái dương lớn, phát triển mạnh.
  • Phần gồ trên mắt lộ rõ.
  • Mắt có kích thước trung bình, nằm xiên chéo, dạng hạnh nhân với màu đặc trưng của màng mống mắt: có những vòng tròn màu đen, một vòng trực tiếp bao quanh đồng tử (chính vì vậy rất khó phân biệt ranh giới giữa mống mắt và đồng tử), vòng đen thứ hai bao quanh phía ngoài mống mắt. ở khoảng giữa hai vòng tròn, mống mắt có màu sáng hơn, từ màu vàng đến màu xám.
  • Mõm hình trụ, thẳng hoặc có phần bướu nơi chóp mũi. So với phần hộp sọ, mõm nhỏ, không dài lắm (bằng 45% độ dài của đầu) và không mỏng, hơi nhọn. Khi ta quan sát ở thiết diện ngang, đường sống mũi và trán song song với nhau. Phần chuyển tiếp từ trán xuống mõm kéo dài, thuôn đều tự nhiên. Khi chó nhìn thẳng mõm và tia nhìn hợp thành góc 30 0 .
  • Tai đứng, chắc chắn, kích thước trung bình (chiều cao của vành tai tính theo đường trục giữa tương đương với chiều dài của mõm). Vành tai không dày, nơi rộng nhất bằng 1/4 chiều dài tính từ gốc tai. Vành tai thu hẹp dần lên phía trên tạo thành hình tam giác đều. Hai tai nằm xa nhau, rất linh hoạt. Trục giữa của vành tai hơi hướng sang hai bên, nhưng khi chó thể hiện sự tập trung chú ý, vành tai đứng thẳng, mặc dù gốc tai không xích lại gần nhau.
  • Đầu chóp mũi không lớn, màu đen (ở những con thuộc thể biến dị khơromist – chóp mũi có màu nâu tím).
  • Môi, mép khô, mỏng, không chảy xệ.
  • Hàm dưới mạnh mẽ, kết hợp hài hoà về chiều dài và chiều ngang với hàm trên. Các răng đứng sát nhau, chắc chắn, kích thước răng không nhỏ. Hình dáng răng đầy đặn. Khi chó ngậm miệng, phần lớn hàm răng trên và dưới khép lại theo tư thế cắt kéo (hàng dưới thụt vào so với trên), nhưng không hiếm trường hợp hai hàng răng chồng khít lên nhau theo tư thế gọng kìm, hoặc hàm răng hàm trên thụt vào so với hàm dưới một ít. Trong bất kỳ trường hợp nào, các răng cửa hàm trên và răng cửa hàm dưới luôn luôn cọ sát vào nhau.
  • Phần cổ linh hoạt, không dư thừa mỡ, nhiều cơ, không nặng nề, không có yếm bò.
  • Phần mông nhiều cơ.
  • Phần lưng mềm mại, nhiều cơ, nhưng không rộng. Phần võng lưng không sâu.
  • Phần eo lưng thẳng hoặc hơi gồ, nhiều cơ và mềm mại. ở con cái phần này dài hơn rõ rệt so với con đực. Khi chó chạy theo kiểu phi nhẹ nhàng, phần eo lưng chỉ gập nhiều ở khớp thắt lưng- đốt cùng. Thắt lưng chỉ gập lại lớn nhất khi chó phi nhanh.
  • Phần hông dài và rộng, được bao phủ bởi một lớp cơ dày. Xương chậu nằm ở tư thế nghiêng 350- 400 . Mấu xương chậu nổi cao hơn xương sống, thông thường ẩn dưới lớp cơ, lớp mô dưới da, da và lông. Chỉ thấy mấu xương chậu ở những con chó gầy hoặc khi sờ nắn.
  • Xương cùng chiếm khoảng 1/4 chiều dài hông và không gồ lên so với xương chậu.

Đuôi chó không dài (chóp đuôi khi buông thõng còn cách khớp kheo 3- 4 cm, thường thẳng hoặc hơi cong, xung quanh được bao phủ một lớp lông mọc đều từ gốc đến chóp đuôi. Tuỳ theo tình trạng tâm lý của chó, đuôi có thể ở những tư thế rất khác nhau, cho đến tư thế dựng đứng, lúc này đuôi có thể hơi cong về phía trước hoặc sau. Mẫu đuôi điển hình nhất là hình thế thẳng (“poleno”), còn những con có đuôi hình kiếm đeo, lưỡi câu hoặc lưỡi liềm là không đặc trưng. Không thể hiện rõ đặc tính giống ở những dạng cộc đuôi hoặc đuôi quấn vòng.

Khi quan sát chó từ phía trước, lồng ngực hẹp, còn khi quan sát từ trên xuống lồng ngực rộng. Chiều sâu lồng ngực ở những con phát triển tốt, mạnh mẽ có thể đạt tới ngang khớp khuỷu chân trước. Tuỳ theo tư thế của chó, thông thường mép dưới lồng ngực cao hơn khớp khuỷu chân trước từ 1- 4 cm.

Xương sườn cụt phát triển tốt.

  • Bụng thon dài rõ rệt.
  • Chi trước dài, chắc, không to, các khớp không u phồng và duỗi, gập hài hoà. Khi chó đứng ở tư thế bình thường, quan sát từ phía trước thấy hai chi thẳng và lây đều (phần khớp không phình to). Đoạn từ khớp vai- bả vai (con ếch) đến bàn chân, hai chi song song và đứng gần nhau.
  • Xương bả vai không dài, rất linh hoạt có thể dịch chuyển nhiều theo các hướng, về phía trước, phía sau, lên trên hoặc xuống dưới, có thể nghiêng với biên độ lớn và ít nhiều có thể xoay được. Khi con chó đứng ở tư thế bình thường, trục của xương bả vai tạo với đường nằm ngang một góc 600.
  • Xương vai được bao phủ một lớp cơ chắc, dày nhưng không lộ bắp cơ. Xương vai dài. Khi chó đứng ở tư thế bình thường, đường thẳng lối mỏm cùng vai và điểm giữa khớp khuỷu chân trước tạo với đường nằm ngang một góc từ 70- 800.
  • Khớp khuỷu chân trước gọn, hình dẹt. Khi quan sát từ bên sườn khớp này lớn. Góc cử động lớn nhất của khớp này là 1600.
  • Cẳng chân trước thẳng, với lớp cơ chắc khoẻ, da mỏng và chắc.
  • Khớp cổ chân và xương bàn chân gọn gàng, quan sát từ phía trước bàn chân tương đối rộng.
  • Bàn chân thẳng, có độ dài trung bình, khi chó đứng ở tư thế đứng bình thường bàn chân tạo với mặt đất một góc 60- 700.
  • Phần ngón chân ở chi trước và chi sau có hình ô-van. Các ngón dài và chụm. Móng chân có màu đen (ở các con khơromist – màu nâu).
  • Chi sau dài và lộ rõ, nhưng không lộ rõ các điểm gấp của khớp. Quan sát từ phía sau, hai chân sau của chó thẳng và song song với nhau. Các khớp duỗi, gập tự nhiên. Tổng chiều dài chi sau (gồm đùi, gối, và gót chân) gần bằng 85% tổng chiều dài chi trước (gồm bả vai, vai, cẳng chân trước và bàn chân).
  • Khi chó đứng và chạy thường, tại “điểm tới hạn” (lúc này bàn chân trụ nằm ngay dưới khớp đùi- chậu), góc gập của khớp kheo nhỏ hơn góc gập của khớp gối, còn đường thẳng tưởng định, kéo dài theo trục xương ống chày cắt qua xương sống có cơ hoành.
  • Đùi nở, cơ to chắc khoẻ.
  • Khớp gối không to.
  • Gối có lớp cơ chắc, to, nhưng không lộ bắp cơ. Gân Asin (gót) khoẻ và lộ rõ dưới lớp da mỏng.
  • Khớp kheo chân sau không to, khi quan sát từ bên sườn khớp này có bản rộng.
  • Xương gót chân khoẻ, dài, hợp với xương bàn chân thành một đường thẳng.
  • Gót chân dài, thẳng, chắc.
  • Da mỏng, chắc, không có nếp gấp và những chỗ chảy xệ. ở con đực, khi chó trong tình trạng hưng phấn, dù ở tư thế nào lớp da bao qui đầu cũng bao phủ toàn bộ chiều dài dương vật.
  • Lông dày đặc, sợi lông không dài, thẳng có lớp lông tơ mịn, phần bờm sau gáy có độ dài từ 2,5 đến 4cm, ở sườn từ 2 đến 3 cm. Trên đầu và chân, lông ngắn. Không có những đám lông tạo vẻ trang điểm.
  • Màu lông chỉ có dạng đặc trưng như chó sói, không có đốm, vết, gam màu xám bạc (phần lớn các cá thể giống này) đối nghịch với gam màu xám trắng ở phía dưới “như phần sau của chiếc mặt lạ”, nếu gam màu xám vàng, thì phía dưới là màu nâu-vàng. Chấp nhận cả những cá thể thuộc dạng khơromist (những con có lông màu vàng-nâu với móng chân và chóp mũi màu nâu) và những con có sắc tố đen (những cá thể đen tuyền).

Những lỗi trong tiêu chuẩn chó Dingo Đông Dương

Những dị tật về hình thể

  • Con đực không có 1 hoặc cả 2 tinh hoàn;
  • Thiếu 4 răng trở lên từ khi sinh ra;
  • Có màu lông, móng chân và chóp mũi khác với những gì đã mô tả trong các tiêu chuẩn, cũng như có đốm trắng hoặc khoang vết trên bộ lông;
  • Màu mắt không giống với tiêu chuẩn;
  • Bất kỳ kiểu lông nào không giống với tiêu chuẩn;
  • Tai không chắc chắn, nửa đứng hoặc rủ (một bên hoặc cả hai bên), nếu không phải là do chấn thương;
  • Đuôi có độ dài chạm tới kheo, ngắn quá hoặc cộc đuôi từ khi sinh ra;
  • Chân thấp, bụng sát đất hoặc hình dáng cơ thể nặng nề;
  • Những đặc điểm khác với thể tạng đã trình bày trong tiêu chuẩn chó Dingo Đông Dương.

Dingo - Loài chó hoang từ thời nguyên thủy

Xuất xứ:

Dingo là loài động vật hoang dã, được mang tới châu Úc bởi những ngừơi nguyên thủy từ 4000 năm trước. Người ta tin rằng giống chó này là tổ tiên của hơn 600 giống chó hiện tại trên thế giới. Thuyền trưởng William Damphier là người đầu tiên đã viết về loài chó hoang này vào năm 1699. Khi đó, chúng được những người thổ dân châu Úc nuôi dưỡng như một nguồn thực phẩm dự phòng cho những khi cơ nhỡ. Là hậu duệ của loài chó hoang Trung Đông và Đông Nam Á, Dingo dần trở thành hoang dã và quay về với tự nhiên. Với việc du nhập cừu và thỏ vào châu Úc bởi những người châu Âu, quần thể Dingo đã sinh sôi nảy nở vô cùng nhanh chóng. Việc loài Dingo chọn các loại gia súc làm nguồn thực phẩm chính đã gây ra sự thù địch giữa chúng và con người. Việc can thiệp thô bạo của con người vào hệ sinh thái từng rất cân bằng của châu Úc đã được đổ hết trách nhiệm cho loài Dingo. Ngày nay, chỉ có ít người chú ý đến loài chó này và tìm cách nghiên cứu nhằm bảo tồn gìn giữ chúng như những loài bản địa. Hiệp hội Huấn luyện chó bản địa Úc, có trụ sở tại bang New South Wales, đã nuôi dưỡng và huấn luyện khá nhiều chó Dingo. Những chú chó này có thể thuần dưỡng trở lại khá dễ nếu được nuôi từ nhỏ, nhưng chúng vẫn còn giữ lại một vài bản tính của lòai chó hoang như lẩn trốn và rất thận trọng. Ở nhiều bang tại Úc, Dingo vẫn bị coi là nguy hiểm và không được phép nuôi trong nhà. Một vài bang khác thì cho phép, nhưng với những qui định rất ngặt ngèo. Chính phủ liên bang Úc xếp Dingo vào loại thú hoang dã và cấm xuất khẩu, ngoại trừ xuất cho các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc vườn bách thú. Vì vậy rất hiếm gặp Dingo ở ngoài phạm vi châu Úc.



Ngoại hình:

Chó hoang Dingo có cặp mắt khá lớn, màu dao động từ vàng đến da cam. Đôi tai nhỏ, hơi tròn cực kỳ nhanh nhẹn, hoạt bát và dựng đứng một cách tự nhiên. Đuôi dài cân đối, buông thõng và hơi xù. Phần thân sau chắc nịch và cơ bắp. Bộ lông dày và mềm. Độ dày và độ dài thay đổi tùy theo khí hậu của từng mùa. Màu phổ biến nhất của bộ lông Dingo là vàng tươi, nhưng có thể gặp các cá thể có màu vàng nhạt, đen hoặc trắng. Đôi khi còn có cả màu vện, bạch tạng. Tất cả các chó Dingo thuần chủng đều phải có vệt lông trắng ở bàn chân và chỏm đuôi. Khác với các loại chó khác, chó Dingo không bao giờ có móng đeo (huyền đề).

Tính cách:

Chó Dingo chưa bao giờ được coi là được thuần duỡng một cách hoàn toàn. Điều này có thể được lý giải bởi môi trường sống cách biệt và thiếu sự can thiệp của con người. Giống chó này khó dạy bảo và không thích hợp với trẻ nhỏ. Việc huấn luyện chúng đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và nhẹ nhàng. Chó Dingo chỉ có thể trở thành thú nuôi nếu bạn bắt chó con khi chúng nhỏ hơn 6 tuần tuổi. Khi đó chúng có thể dạy dỗ và trở nên thân thiện với con người. Sau 10 tuần tuổi, tuyệt đối không nên có ý định thuần hóa chúng. Nếu huấn luyện một cách bài bản, Dingo có thể trở thành một vật nuôi vô cùng độc đáo với sự lanh lẹ và các tài lẻ khác như leo trèo… Dingo có họ hàng với các giống chó New Guinea Singing Dog and the Finnish Spitz. Giống như tổ tiên của chúng là lòai sói đồng bằng Ấn độ, Dingo chỉ sinh đẻ 1 lứa trong năm. Một điểm khác biệt nữa của Dingo là chúng chỉ có 1 bạn đời duy nhất. Thông thường, ổ chó con Dingo được chọn là những hốc cây, được bảo vệ kỹ lưỡng xung quanh và che chắn phía trước mặt. Mặc dù vậy, chúng vẫn có thể trở thành món mồi ngon của lũ rắn.



Gia đình nhà Dingo thường hú gọi nhau tập hợp nhau trước mỗi cuộc săn. Lòai chó này có bản năng bầy đàn rất mạnh, luôn cộng tác với nhau trong các cuộc săn mồi. Thói quen của chúng là tổ chức đi săn vào ban đêm. Dingo có thể săn một mình hoặc phối hợp với cả gia đình. Săn cả đàn đông thường hiếm gặp hơn. Một rào cản đối với Dingo là nước. Chúng thường không thích bơi mà chỉ lội ở những vùng nước nông. Chó hoang Dingo thường lẩn tránh các tiếp xúc với con người. Để tồn tại trong thiên nhiên, Dingo học được khả năng giả vờ chết rất khéo léo. Chúng rất hiếm khi tỏ ra hung hãn. Mùa sinh đẻ của Dingo vào khoảng tháng 5-6 hàng năm. Hiện tại, chó con Dingo chỉ được mua bán trong phạm vi nước Úc, không dành cho xuất khẩu. Tuy nhiên, chính sách này có thể sẽ thay đổi trong thời gian tới vì những người yêu quí giống chó này đang vận động một chuơng trình nhằm giới thiệu rộng rãi giống chó đặc biệt này ra thế giới. Giá một chú cún Dingo giao động từ 500 - 1000$ Úc. Một trang trại Dingo tại Úc hiện nay có hơn 100 con và họ đang tích cực chọn lọc, nhân giống để có được những chú Dingo thuần chủng.

Chiều cao, trọng lượng: Chiều cao: 19-23 inches (48-58.5 cm). Cân nặng: ~ 50-70 pounds (23-32 kg). Tuy nhiên, trong tài liệu đã có ghi trường hợp nặng 120 pounds (55 kg).

Điều kiện sống

Dingo không thể nuôi trong điều kiện căn hộ. Vì là loài thú hoang nên nếu bạn có ý định nuôi nó không nên xích chúng ở sân sau. Nhất thiết phải có hàng rào bao quanh khu vườn nhà. Chó Dingo cần có khoảng rộng và vận động rất nhiều. Khi dắt đi chơi không nên thả chúng ra khỏi xích. Có thể chịu đựng được thời tiết nóng bức.


Vận động: Dingo là loài động vật hoang dã và có nhu cầu hoạt động rất lớn.

Tuổi thọ: Có thể sống tới 20 năm.

Grooming: Chó Dingo có bộ lông không thấm nước và có thể tự chăm sóc cho bộ lông của mình. Không có mùi hôi điển hình của loài chó.

Nguồn: https://thucung.muabannhanh.com/cho-dingo/50

Tags: chó cưng, chó cảnh, chó đẹp, nuôi chó, Chó Dingo
AoKhoacNu.com.vn / Mua hàng hiệu quả

Tags: chó cưng, chó cảnh, chó đẹp, nuôi chó, Chó Dingo

Mua hàng hiệu quả

Bí quyết chọn trang sức cưới
Bí quyết chọn trang sức cưới
Diện trang sức đồng bộ Một bộ trang sức thường bao gồm dây cổ, bông tai, lắc tay và nhẫn. Việc kết...

Mặc đẹp với áo khoác nữ

Váy đầm đẹp có tay - AnnA Collection
Váy đầm đẹp có tay - AnnA...
Nguồn gốc: OEM Products (Chú thích: OEM viết tắt của Original Equipment Manufacturer)Váy đầm đẹp có...

Tin đăng cùng người bán

Tin mới nhất

Bí quyết chọn trang sức cưới
Bí quyết chọn trang sức cưới
Diện trang sức đồng bộ Một bộ trang sức thường bao gồm dây cổ, bông tai, lắc tay và nhẫn. Việc kết...